Bị cáo chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm thì giải quyết như thế nào?
Cập nhật ngày: 15/08/2015
Câu hỏi: A dùng vỏ chai bia đập liên tục nhiều lần vào đầu B. Do vết thương quá nặng, B chết trên đường đến bệnh viện.
1. Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và ra lệnh tạm giam đối với A. Hãy nhận xét việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều tra.
2. Viện kiểm sát truy tố bị can A về tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS. Khi nghiên cứu hồ sơ, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở để xét xử theo khoản 1 Điều 93 BLHS. Tòa án chọn cách giải quyết nào dưới đây? Tại sao?
a. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
b. Ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
3. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án sơ thẩm kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị yêu cầu giảm mức bồi thường đối với bị cáo. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị nào để mở phiên tòa? Tại sao?
4. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xác định bản án sơ thẩm là đúng pháp luật, nhưng A đã chết vì tai nạn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm thì giải quyết như thế nào?
1. Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và ra lệnh tạm giam đối với A. Hãy nhận xét việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều tra.
2. Viện kiểm sát truy tố bị can A về tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS. Khi nghiên cứu hồ sơ, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở để xét xử theo khoản 1 Điều 93 BLHS. Tòa án chọn cách giải quyết nào dưới đây? Tại sao?
a. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
b. Ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
3. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án sơ thẩm kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị yêu cầu giảm mức bồi thường đối với bị cáo. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị nào để mở phiên tòa? Tại sao?
4. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xác định bản án sơ thẩm là đúng pháp luật, nhưng A đã chết vì tai nạn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm thì giải quyết như thế nào?
Trả lời: 1. Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và ra lệnh tạm giam đối với A là sai vì chưa ra quyết định khởi tố bị can đã quyết định tạm giam.
Theo quy định tại Điều 80 BLTTHS thì:
“1. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;
b) Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;
c) Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;
d) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
2. Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.
Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt.
Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.
3. Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này.”
2. Ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vì Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật. Theo quy định tại Điều 196 BLTTHS thì: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.
Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật khác về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
3. Tòa án cấp phúc thẩm chấp thuận cả hai kháng nghị vì nội dung không mâu thuẫn nhau.
4. Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án vì:
- Theo quy định tại Điều 251 BLTTHS thì: “Khi có một trong những căn cứ quy định tại điểm 1 và điểm 2 Điều 107 của Bộ luật này thì Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án; nếu có một trong những căn cứ quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 107 của Bộ luật này thì hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.”
- Theo quy định tại Điều 107 BLTTHS thì:
Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
“Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
1. Không có sự việc phạm tội;
2. Hành vi không cấu thành tội phạm;
3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
6. Tội phạm đã được đại xá;
7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.”
Trân trọng!
Theo quy định tại Điều 80 BLTTHS thì:
“1. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;
b) Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;
c) Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;
d) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
2. Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.
Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt.
Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.
3. Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này.”
2. Ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vì Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật. Theo quy định tại Điều 196 BLTTHS thì: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.
Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật khác về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
3. Tòa án cấp phúc thẩm chấp thuận cả hai kháng nghị vì nội dung không mâu thuẫn nhau.
4. Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án vì:
- Theo quy định tại Điều 251 BLTTHS thì: “Khi có một trong những căn cứ quy định tại điểm 1 và điểm 2 Điều 107 của Bộ luật này thì Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án; nếu có một trong những căn cứ quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 107 của Bộ luật này thì hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.”
- Theo quy định tại Điều 107 BLTTHS thì:
Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
“Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
1. Không có sự việc phạm tội;
2. Hành vi không cấu thành tội phạm;
3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
6. Tội phạm đã được đại xá;
7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.”
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










