Biết là tiền giả nhưng vẫn tiêu thụ bị phạm tội gì?
Cập nhật ngày: 09/12/2015
Câu hỏi: Đinh Văn H nhặt được ba tờ giấy bạc mệnh giá 50.000 đồng và tám tờ giấy bạc mệnh giá 10.000 đồng, tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. H đã dùng số tiền này mời người yêu ăn sáng nhưng đã bị chị bán hàng trả lại vì phát hiện đó là tiền giả. Sau đó, H đã mang tiền giả này đi mua sách. Việc làm đó của H có phạm tội không và nếu có thì bị xử lý như thế nào? Người yêu của H biết hành vi của H nhưng không tố giác thì có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
Trả lời: Điều 180 Bộ luật Hình sự quy định tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả như sau:
“1. Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.
2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.
3. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Căn cứ vào các quy định trên và tình tiết của vụ án, hành vi của Đinh Văn H đã thỏa mãn các dấu hiệu của tội lưu hành tiền giả theo Điều 180 Bộ luật Hình sự. Với hành vi này, H có thể bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm và bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (khoản 1 Điều 180 Bộ luật Hình sự). Người yêu của H biết hành vi của H nhưng không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm và bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Tuy nhiên, nếu người yêu của H đã có hành động can ngăn H hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt (Điều 314 Bộ luật Hình sự).
Trân trọng!
“1. Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.
2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.
3. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Căn cứ vào các quy định trên và tình tiết của vụ án, hành vi của Đinh Văn H đã thỏa mãn các dấu hiệu của tội lưu hành tiền giả theo Điều 180 Bộ luật Hình sự. Với hành vi này, H có thể bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm và bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (khoản 1 Điều 180 Bộ luật Hình sự). Người yêu của H biết hành vi của H nhưng không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm và bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Tuy nhiên, nếu người yêu của H đã có hành động can ngăn H hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt (Điều 314 Bộ luật Hình sự).
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










