Hình sự

Cho mượn địa điểm để giao dịch tiền giả có bị coi là phạm tội hay không?

Cập nhật ngày: 01/12/2015
Câu hỏi: Đinh Quang H mang 3.000.000 đồng tiền giả đến nhà Nguyễn Xuân T và nhờ T nhắn cho người cùng cơ quan có tên là Đỗ Đình Tr đến nhà gặp H để cầm tiền giả đi lưu hành. Tại bếp nhà T, H đưa cho Tr hai triệu đồng tiền giả. Khi Tr ra khỏi nhà T một đoạn thì bị công an bắt giữ. Hỏi Nguyễn Xuân T có phạm tội và chịu hình phạt như H và Tr không?
Trả lời: Điều 20 Bộ luật Hình sự quy định về đồng phạm như sau: 1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm; 2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là đồng phạm. Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
Căn cứ vào các quy định trên và các tình tiết của vụ án:
Nguyễn Xuân T bị coi là đồng phạm với Đinh Quang H và Đỗ Đình Tr về tội lưu hành tiền giả. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xem xét đến tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm… Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra (Điều 3)
- T có thể được giảm nhẹ hình phạt, nhưng vẫn phạm cùng tội với H và Tr – tội lưu hành tiền giả (Điều 180). Theo đó, người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì phạt tù từ năm năm đến mười hai năm. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, thì phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình. Người phạm tội này còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia




Quý khách có nhu cầu tư vấn luật hoặc sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ: 1900.6287
---->>  LUẬT SƯ TƯ VẤN (24/7) GỌI: 1900.6287
---->>  Gửi yêu cầu dịch vụ hoặc yêu cầu đến luật sư
---->>  Tham khảo dịch vụ pháp lý và tìm hiểu kiến thức luật tại: http://luattrangia.com
---->>  Bản quyền thuộc về Công ty Luật TNHH MTV Trần Gia



Bài viết cùng chủ đề




Bài viết liên quan

X
Đặt câu hỏi
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Nhận hồ sơ trực tuyến
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Yêu cầu gọi lại
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
Danh sách đối tác
Liên hệ ngay 🠪