Hình sự

Chuyển tiếp trái phép cuộc gọi quốc tế về Việt Nam bị phạm tội gì?

Cập nhật ngày: 05/12/2015
Câu hỏi: Tháng 8 năm 2012, Lê Văn Đ móc nối với hai người ở Liên bang Nga sang Trung Quốc thực hiện việc kết nối các cuộc gọi điện thoại từ Nga về Việt Nam. Đ thuê phòng số 230 tại một nhà nghỉ ở Trung Quốc rồi về Việt Nam nhờ người đứng tên thuê bao sử dụng hai máy điện thoại di động, sau đó mang sang Trung Quốc thực hiện chuyển tiếp các cuộc gọi từ Nga về Việt Nam. Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013, Đ đã sử dụng 10 sim di động để chuyển tiếp trái pháp luật 292.796 phút điện thoại từ Nga về Việt Nam không qua sự kiểm soát cước quốc tế, gây thiệt hại cho Nhà nước 1.268.116.000 đồng. Việc làm này của Đ có phạm tội gì không? Nếu có phạm tội thì Đ bị xử phạt như thế nào? Vợ của Đ biết hành vi của chồng mình nhưng không tố giác thì có bị trừng trị không?
Trả lời: Điều 138 Bộ luật Hình sự quy định tội trộm cắp tài sản như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.”

Điều 314 Bộ luật Hình sự quy định tội không tố giác tội phạm như sau:
“1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị e m ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”

Căn cứ vào các quy định trên và tình tiết của vụ án, Lê Văn Đ đã phạm tội trộm cắp tài sản (Điều 138). Với tội này, Đ có thể bị xử phạt phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân (khoản 4). Ngoài ra, Đ còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mười triệu đồng (khoản 5). Nếu vợ của Đ biết hành vi của chồng mà không tố giác thì đã phạm tội không tố giác tội phạm và có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm (khoản 1 Điều 314).

Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia




Quý khách có nhu cầu tư vấn luật hoặc sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ: 1900.6287
---->>  LUẬT SƯ TƯ VẤN (24/7) GỌI: 1900.6287
---->>  Gửi yêu cầu dịch vụ hoặc yêu cầu đến luật sư
---->>  Tham khảo dịch vụ pháp lý và tìm hiểu kiến thức luật tại: http://luattrangia.com
---->>  Bản quyền thuộc về Công ty Luật TNHH MTV Trần Gia



Bài viết cùng chủ đề




Bài viết liên quan

X
Đặt câu hỏi
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Nhận hồ sơ trực tuyến
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Yêu cầu gọi lại
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
Danh sách đối tác
Liên hệ ngay 🠪