Dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản
Cập nhật ngày: 05/12/2015
Câu hỏi: Tội cướp giật tài sản (Điều 136 Bộ luật Hình sự) có dấu hiệu pháp lý đặc trưng gì? Người phạm tội này bị xử phạt như thế nào?
Trả lời: Tội cướp giật tài sản là hành vi cố ý trực tiếp công khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân, do người đạt độ tuổi luật hình sự quy định thực hiện.
Tội cướp giật tài sản (Điều 136 Bộ luật Hình sự) có dấu hiệu pháp lý đặc trưng sau đây:
- Khách thể của tội cướp giật tài sản là quan hệ sở hữu.
- Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản là hành vi công khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.
- Chủ thể của tội cướp giật tài sản là chủ thể thường - bất cứ người nào từ đủ 14 hoặc 16 tuổi trở lên và không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm.
- Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản: Có lỗi cố ý trực tiếp.
Người phạm tội này bị xử phạt như sau: Trong trường hợp thông thường có thể bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Khung tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Khung tăng nặng thứ ba có mức phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.
Trân trọng!
Tội cướp giật tài sản (Điều 136 Bộ luật Hình sự) có dấu hiệu pháp lý đặc trưng sau đây:
- Khách thể của tội cướp giật tài sản là quan hệ sở hữu.
- Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản là hành vi công khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.
- Chủ thể của tội cướp giật tài sản là chủ thể thường - bất cứ người nào từ đủ 14 hoặc 16 tuổi trở lên và không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm.
- Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản: Có lỗi cố ý trực tiếp.
Người phạm tội này bị xử phạt như sau: Trong trường hợp thông thường có thể bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Khung tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Khung tăng nặng thứ ba có mức phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










