Hình sự

Học sinh dưới 18 tuổi đánh nhau gây thương tật 27% thì xử lý như thế nào?

Cập nhật ngày: 05/09/2015
Câu hỏi: Trong lúc đi học, 2 con của tôi là A và B có xích mích với bạn cùng học là D. Các bạn con tôi nói khi tan học A và B đã đánh D gây thương tích, cơ quan giám định kết luận tỉ lệ thương tật là 27%. Ông C là bố của D làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và kết thúc điều tra đối với A và B về tội cố ý gây thương tích. Viện kiểm sát cấp huyện đã ra quyết định truy tố A và B về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 BLHS. Gia đình tôi không có tiền để thuê luật sư bào chữa cho 2 cháu. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán phát hiện trong giai đoạn điều tra, A và B không có người bào chữa (A mới 17 tuổi, B 16 tuổi và D cũng 16 tuổi).
1. Với tình tiết như trên thì Thẩm phán phải giải quyết như thế nào? Tại sao?
2. Khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán còn phát hiện trước khi thực hiện hành vi gây thương tích cho C thì A và B đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Thẩm phán giải quyết như thế nào? Tại sao?
3. Giả sử trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, A yêu cầu thay đổi Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa với lí do Thẩm phán là người thân thích của C. Tòa án giải quyết yêu cầu này như thế nào? Tại sao?
4. Giả sử trong giai đoạn điều tra, B và C đều nhờ người bào chữa nhưng đến ngày mở phiên tòa, chỉ có người bào chữa của C có mặt còn người bào chữa cho B vắng mặt và cũng không gửi bản bào chữa cho Tòa án. Hội đồng xét xử sẽ giải quyết như thế nào? Tại sao?
5. Giả sử trong thời gian chuẩn bị xét xử, Tòa án nhận được đơn của D xin không đưa A và B ra xét xử. Tòa án phải giải quyết như thế nào? Tại sao?
6. Giả sử tại phiên tòa sở thẩm, người bào chữa của B xuất trình một tài liệu khẳng định khi thực hiện hành vi gây thương tích cho D thì B chưa đủ 16 tuổi. Tài liệu này không thể xác minh tại phiên tòa được. Hội đồng xét xử sơ thẩm giải quyết như thế nào? Tại sao?
7. Giả sử Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 104 BLHS tuyên phạt tù các bị cáo. Ông D kháng cáo yêu cầu áp dụng khung hình phạt nặng hơn đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm phải giải quyết thế nào và tại sao?
Trả lời: 1. Trong quá trình tiến hành tố tụng, bị can A và B trên 16 tuổi và chưa đủ 18 tuổi, do đó, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 BLTTHS, A và B phải có người bào chữa.
Điểm b khoản 2 Điều 57 BLTTHS quy định: “Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất...”
Tuy nhiên việc bị can A và B không có người bào chữa trong giai đoạn điều tra có thể do một trong hai khả năng sau:
Trường hợp 1: Cơ quan điều tra không yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật cử người bào chữa cho A và B.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 57 BLTTHS thì trường hợp A và B hoặc người đại diện hợp pháp của A và B không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra có trách nhiệm yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho A và B. Việc Cơ quan điều tra không thực hiện đúng quy định nêu trên khi điều tra A và B (chưa thành niên) không có người bào chữa đã vi phạm quyền bào chữa của A và B, có thể ảnh hưởng đến việc xác định sự thật vụ án - đây được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Do đó, căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 1 Điều 179 BLTTHS, Thẩm phán được phân công phụ trách vụ án sẽ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Điểm c khoản 1 Điều 179 BLTTHS quy định: “Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau đây:
c) Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.”
Trường hợp 2: Cơ quan điều tra đã yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho A và B, nhưng A, B và người đại diện hợp pháp của A và B từ chối người bào chữa.
Việc có người bào chữa là quyền của bị can, bị cáo. Do vậy, trong trường hợp đã được cử người bào chữa mà bị can, bị cáo và người đại diện từ chối thì phải thực hiện theo ý muốn của họ. Cơ quan điều tra đã thực hiện đúng trách nhiệm của mình nên không coi là vi phạm thủ tục tố tụng. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 176 BLTTHS thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

2. Tại khoản 1, khoản 2 Điều 179 BLTTHS quy định:
“1. Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau đây:
b) Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác;
2. Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết.
Trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.”
Như vậy, khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán phát hiện trước khi thực hiện hành vi gây thương tích cho C thì A và B thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Thẩm phán sẽ ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết. Trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

3. Theo quy định tại Điều 46 BLTTHS thì Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tham gia hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 42 của BLTTHS.
Theo đó, các trường hợp quy định tại Điều 42 của BLTTHS bao gồm:
“1. Họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo;
2. Họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó;
3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.”
Như vậy, Thẩm phán - người tham gia tố tụng có thể bị thay đổi trong trường hợp người này đồng thời là người thân thích của bị can, bị cáo trong vụ án.
Theo quy định tại Điều 43 BLTTHS, những người có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng là:
“1. Kiểm sát viên;
2. Bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ;
3. Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.”
Vì A là bị cáo do đó có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng (trường hợp này A yêu cầu thay đổi Thẩm phán được phân công là chủ tọa phiên tòa).
Quyền đề nghị thay đổi người tham gia tiến hành tố tụng có thể được thực hiện ở bất kỳ thời điểm nào trong tố tụng hình sự trước khi Hội đồng xét xử bắt đầu xét hỏi tại phiên tòa. Trong trường hợp trên, A đã yêu cầu thay đổi Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa trước khi mở phiên tòa là đúng quy định pháp luật.
Xét thấy, về mặt chủ thể: A là bị cáo, chủ thể có quyền yêu cầu thay đổi Thẩm phán phiên tòa; về thời gian, A thực hiện quyền yêu cầu của mình trước khi mở phiên tòa là đúng với quy định tại Điều 43 BLTTHS; về mặt nội dung: A yêu cầu thay đổi Thẩm phán với lý do Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa là người thân thích của C (người bị hại) trong vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 43 BLTTHS.
Như vậy, yêu cầu thay đổi Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa của A là đúng quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Trong trường hợp này, Tòa án cần xác minh lý do A yêu cầu thay đổi Thẩm phán (là người thân thích của C) có thật hay không. Nếu lý do A đưa ra không có căn cứ thực tế thì Tòa án sẽ bác yêu cầu thay đổi Thẩm phán của A. Nếu sau khi xác minh thấy yêu cầu của A là có căn cứ thực tế thì theo khoản 2 Điều 46 BLTTHS: Chánh án Tòa án cùng cấp sẽ quyết định việc thay đổi Thẩm phán trước khi mở phiên tòa nếu Thẩm phán bị thay đổi không phải là chánh án; hoặc nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì sẽ do Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quyết định.

4. Vì cả B và C đều là người chưa thành niên (đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi). Đến ngày mở phiên tòa, người bào chữa của B vắng mặt và cũng không gửi bản bào chữa tới Tòa. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 BLTTHS thì đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên buộc phải có người bào chữa.
Tại khoản 2 Điều 190 BLTTHS quy định: Trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS mà người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Như vậy, tại phiên tòa xét xử bị cáo là người chưa thành niên mà người bào chữa vắng mặt, dù có gửi hay không gửi bản bào chữa cho Tòa án thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa.
Tuy nhiên, nếu trong trường hợp này nếu B và người đại diện hợp pháp của B từ chối người bào chữa khác và khẳng định mình có thể tự bào chữa được thì Tòa án vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung. Bởi theo quy định tại khoản 2 Điều 27 thì trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên, bản thân họ và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Việc từ chối người bào chữa phải được lập thành văn bản.
Như vậy, trong tình huống trên, Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa nhưng nếu B và người đại diện hợp pháp khẳng định có thể tự bào chữa được thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo thủ tục chung.

5. Theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, về mặt nguyên tắc, khi đủ căn cứ xác định có dấu hiệu của tội phạm thì các cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự để tiến hành các hoạt động điều tra. Tuy nhiên, do có yêu cầu về sự hài hòa giữa mục tiêu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và lợi ích, nguyện vọng của người bị hại, cho nên BLTTHS quy định một số tội phạm cụ thể chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Đó là những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 BLHS (khoản 1 Điều 105 BLTTHS).
Trong tình huống này, C là người chưa thành niên (16 tuổi), do đó ông D là người đại diện hợp pháp của C. Tại Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: người đại diện theo pháp luật là cha, mẹ đối với con chưa thành niên gửi đơn yêu cầu khởi tố vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 105 BLTTHS, người đã yêu cầu khởi tố vụ án có quyền rút đơn yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm. Chủ thể có quyền rút yêu cầu khởi tố chính là người đã yêu cầu khởi tố vụ án. Mà C lại là người chưa thành niên, việc yêu cầu khởi tố là do người đại diện hợp pháp của C thực hiện. Điều đó có nghĩa, ông D là người đại diện hợp pháp của C và ông D đồng thời là người yêu cầu khởi tố vụ án nên ông có quyền rút yêu cầu khởi tố.
Vậy, đơn xin không đưa A và B ra xét xử của ông D được Tòa án chấp nhận. Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án đó.

6. Theo điểm a khoản 1 Điều 179 BLTTHS thì Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong các trường hợp như: Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được.
Chứng cứ quan trọng đối với vụ án có thể hiểu là những chứng cứ không thể thiếu được trong quá trình giải quyết vụ án, là chứng cứ làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 63 BLTTHS, đó là “Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không...” và những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
Khi thực hiện hành vi gây thương tích cho C mà B chưa đủ 16 tuổi thì điều này có thể làm xoay chuyển tình thế của vụ án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS thì người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Do đó nếu B chưa đủ 16 tuổi thì B không phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 104 BLHS (bởi đây là tội ít nghiêm trọng).
Vì vậy tài liệu này rất quan trọng đối với B, nó chứng minh B có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không. Tài liệu này lại không thể xác minh ngay tại phiên tòa được. Chính vì vậy, trong trường hợp này, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định hoãn phiên tòa xét xử và yêu cầu điều tra bổ sung đối với B (vẫn tiến hành xét xử đối với A).
Nếu kết quả điều tra bổ sung chứng tỏ B chưa đủ 16 tuổi thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án đối với B (theo quy định tại Điều 180 và khoản 3 Điều 107 BLTTHS). Nếu kết quả điều tra bổ sung chứng tỏ tài liệu đưa ra tại phiên tòa là không chính xác thì sẽ mở phiên tòa xét xử đối với B.
Nếu Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì chuyển hồ sơ lại cho Tòa án kèm theo văn bản nói rõ lý do không điều tra bổ sung được. Khi nhận lại hồ sơ, trong thời hạn 15 ngày, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

7. Giả sử Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 104 BLHS tuyên phạt tù các bị cáo. Ông D kháng cáo yêu cầu áp dụng khung hình phạt nặng hơn đối với các bị cáo thì cần xét các trường hợp và các căn cứ sau:
a) Có căn cứ chuyển khung hình phạt nặng hơn;
Khi có căn cứ chuyển sang khung hình phạt khác nặng hơn thì theo quy định tại khoản 3 Điều 249 BLTTH: Trong trường hợp người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật Hình sự về tội nặng hơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể tăng hình phạt đối với A và B. Mặt khác, C 16 tuổi nên ông D sẽ là người đại diện hợp pháp của C, mà theo Điều 231 BLTTHS thì ông D là một trong những chủ thể có quyền kháng cáo, do đó việc ông D kháng cáo yêu cầu chuyển khung hình phạt nặng hơn là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên khi Hội đồng xét phúc thẩm sửa bản án phải chú ý không được vượt quá nội dung yêu cầu kháng cáo.
Việc sửa án theo hướng không có lợi cho bị cáo dẫn đến việc làm xấu đi tình trạng của bị cáo do đó có sự quy định chặt chẽ về hướng kháng nghị, kháng cáo và cả chủ thể kháng nghị, kháng cáo để đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo.
b) Không có căn cứ để chuyển khung hình phạt nặng hơn nhưng có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 249 BLTTHS: “Nếu có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.”
Như vậy, trong trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm có thể giảm nhẹ hình phạt cho A và B nếu có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt. Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLTTHS: “Giảm hình phạt cho bị cáo” khi có căn cứ mà không cần các điều kiện nào khác.
Có thể thấy khi sửa án theo hướng có lợi cho bị cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm không bị ràng buộc bởi phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị. Việc sửa án theo hướng giảm nhẹ được tiến hành khi có kháng cáo, kháng nghị theo hướng giảm nhẹ hoặc tăng nặng, kể cả khi tất cả các kháng cáo, kháng nghị đều theo hướng tăng nặng. Điều này nhằm đảm bảo thực hiện các nguyên tắc của tố tụng hình sự cũng như bảo vệ quyền con người, một người chỉ phải chịu hình phạt tương ứng với những hành vi phạm tội của mình. Có như vậy việc quy định hình phạt mới đạt được mục đích giáo dục và phòng ngừa.

Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia




Quý khách có nhu cầu tư vấn luật hoặc sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ: 1900.6287
---->>  LUẬT SƯ TƯ VẤN (24/7) GỌI: 1900.6287
---->>  Gửi yêu cầu dịch vụ hoặc yêu cầu đến luật sư
---->>  Tham khảo dịch vụ pháp lý và tìm hiểu kiến thức luật tại: http://luattrangia.com
---->>  Bản quyền thuộc về Công ty Luật TNHH MTV Trần Gia



Bài viết cùng chủ đề




Bài viết liên quan

X
Đặt câu hỏi
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Nhận hồ sơ trực tuyến
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Yêu cầu gọi lại
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
Danh sách đối tác
Liên hệ ngay 🠪