Người bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt?
Cập nhật ngày: 25/08/2015
Câu hỏi: Do tranh chấp đất đai thừa kế, A đã vác dao phay chém người anh cùng cha khác mẹ là B, làm anh B bị thương với tỷ lệ thương tật là 23%. Với hành vi này, A đã bị Tòa án xử phạt hai năm tù về tội cố ý gây thương tích. Sau khi Tòa tuyên án sơ thẩm, nếu anh B thấy hình phạt như thế là quá nhẹ thì anh B cần phải làm gì?
Trả lời: Theo quy định của BLHS hiện hành thì A đã phạm tội cố ý gây thương tích. Khoản 2 Điều 104 BLHS quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ... 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm...
Nếu anh B thấy hình phạt mà Tòa án tuyên là quá nhẹ thì anh B có quyền kháng cáo bằng cách gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó (quy định tại Điều 95, Điều 233 BLTTHS). Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc niêm yết. Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì (Điều 234 BLTTHS).
Trân trọng!
Nếu anh B thấy hình phạt mà Tòa án tuyên là quá nhẹ thì anh B có quyền kháng cáo bằng cách gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó (quy định tại Điều 95, Điều 233 BLTTHS). Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc niêm yết. Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì (Điều 234 BLTTHS).
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










