Những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt?
Cập nhật ngày: 17/08/2015
Câu hỏi: Trình bày quy định về những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự?
Trả lời: Điều 83 BLTTHS quy định về những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt như sau:
“1. Sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.
2. Đối với người bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để đến nhận người bị bắt.
Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã. Trong trường hợp xét thấy cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết.
Sau khi nhận được thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Sau khi nhận được lệnh tạm giam, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất.”
Theo Mục 4 Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP hướng dẫn về Điều 83 như sau:
“4. Những việc phải làm ngay sau khi bắt khẩn cấp hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp truy nã (Điều 83)
4.1. Căn cứ khoản 1 Điều 83 của BLTTHS, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi đã dẫn giải người bị bắt về đến trụ sở, Cơ quan điều tra thụ lý vụ việc phải lấy lời khai ngay và có quyền ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt, không phải chờ Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp. Do đó, trường hợp Cơ quan điều tra trả tự do cho người bị bắt thì thông báo ngay cho Viện kiểm sát để không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; trường hợp Cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm giữ nhưng không có căn cứ để phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
4.2. Đối với người bị bắt trong trường hợp truy nã, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải lấy lời khai, lập danh chỉ bản, chụp ảnh người bị bắt và gửi ngay thông báo kèm theo danh chỉ bản, ảnh của người đó cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để đến nhận người bị bắt.
Trường hợp xét thấy cơ quan ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan điều tra nhận người bị bắt ra quyết định tạm giữ và gửi ngay quyết định tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu cơ quan đã ra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận người bị bắt thì chậm nhất trước khi hết thời hạn tạm giữ 12 giờ, cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải chuyển hồ sơ kèm theo Công văn đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp gia hạn tạm giữ đối với người bị bắt. Thời hạn gia hạn tạm giữ và việc xét phê chuẩn tạm giữ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 87 của BLTTHS.
4.3. Sau khi nhận được thông báo kèm theo danh chỉ bản, ảnh người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải kiểm tra ngay để xác định đúng là người đang bị truy nã hay không; nếu xác định đúng thì đến ngay Cơ quan điều tra nơi tiếp nhận người bị bắt truy nã để nhận người bị bắt; nếu không đúng phải thông báo lại ngay để Cơ quan điều tra đang giữ người bị bắt trả tự do cho họ. Trường hợp không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam kèm theo quyết định truy nã cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn.
Trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù trốn khởi nơi giam thì Giám thị trại giam ra quyết định truy nã, tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 23 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.
Thời hạn Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnh tạm giam đối với các trường hợp quy định tại Điểm này không được quá 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị phê chuẩn để cơ quan ra quyết định truy nã kịp thời gửi lệnh tạm giam kèm theo quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam đó cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt.
4.4. Sau khi nhận được lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát phê chuẩn, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay người bị bắt đến trại tạm giam nơi gần nhất. Việc giao nhận người bị bắt giữa Cơ quan điều tra và trại tạm giam; giữa trại tạm giam và cơ quan ra quyết định truy nã phải lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của BLTTHS. Biên bản ghi lời khai người bị bắt, quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ và quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam và quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam của Viện kiểm sát, các tài liệu khác có liên quan và biên bản giao nhận người bị bắt phải đưa vào hồ sơ vụ án.”
Trân trọng!
“1. Sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.
2. Đối với người bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để đến nhận người bị bắt.
Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã. Trong trường hợp xét thấy cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết.
Sau khi nhận được thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Sau khi nhận được lệnh tạm giam, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất.”
Theo Mục 4 Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP hướng dẫn về Điều 83 như sau:
“4. Những việc phải làm ngay sau khi bắt khẩn cấp hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp truy nã (Điều 83)
4.1. Căn cứ khoản 1 Điều 83 của BLTTHS, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi đã dẫn giải người bị bắt về đến trụ sở, Cơ quan điều tra thụ lý vụ việc phải lấy lời khai ngay và có quyền ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt, không phải chờ Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp. Do đó, trường hợp Cơ quan điều tra trả tự do cho người bị bắt thì thông báo ngay cho Viện kiểm sát để không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; trường hợp Cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm giữ nhưng không có căn cứ để phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
4.2. Đối với người bị bắt trong trường hợp truy nã, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải lấy lời khai, lập danh chỉ bản, chụp ảnh người bị bắt và gửi ngay thông báo kèm theo danh chỉ bản, ảnh của người đó cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để đến nhận người bị bắt.
Trường hợp xét thấy cơ quan ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan điều tra nhận người bị bắt ra quyết định tạm giữ và gửi ngay quyết định tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu cơ quan đã ra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận người bị bắt thì chậm nhất trước khi hết thời hạn tạm giữ 12 giờ, cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải chuyển hồ sơ kèm theo Công văn đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp gia hạn tạm giữ đối với người bị bắt. Thời hạn gia hạn tạm giữ và việc xét phê chuẩn tạm giữ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 87 của BLTTHS.
4.3. Sau khi nhận được thông báo kèm theo danh chỉ bản, ảnh người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải kiểm tra ngay để xác định đúng là người đang bị truy nã hay không; nếu xác định đúng thì đến ngay Cơ quan điều tra nơi tiếp nhận người bị bắt truy nã để nhận người bị bắt; nếu không đúng phải thông báo lại ngay để Cơ quan điều tra đang giữ người bị bắt trả tự do cho họ. Trường hợp không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam kèm theo quyết định truy nã cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn.
Trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù trốn khởi nơi giam thì Giám thị trại giam ra quyết định truy nã, tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 23 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.
Thời hạn Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnh tạm giam đối với các trường hợp quy định tại Điểm này không được quá 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị phê chuẩn để cơ quan ra quyết định truy nã kịp thời gửi lệnh tạm giam kèm theo quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam đó cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt.
4.4. Sau khi nhận được lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát phê chuẩn, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay người bị bắt đến trại tạm giam nơi gần nhất. Việc giao nhận người bị bắt giữa Cơ quan điều tra và trại tạm giam; giữa trại tạm giam và cơ quan ra quyết định truy nã phải lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của BLTTHS. Biên bản ghi lời khai người bị bắt, quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ và quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam và quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam của Viện kiểm sát, các tài liệu khác có liên quan và biên bản giao nhận người bị bắt phải đưa vào hồ sơ vụ án.”
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










