Hình sự

Quy định về tội chiếm giữ tài sản trái phép

Cập nhật ngày: 25/07/2015
Câu hỏi: Tối ngày 20/11/2011, trên đường đi đón con, tôi có đánh rơi 01 ví tiền, trong đó có một số giấy tờ tùy thân vào 20 triệu đồng tiền tôi vừa nhận của khách hàng chưa kịp mang về nhà cất. Vài hôm sau, bà B là nhân viên thu gom rác ở xã bên có đem đến cho tôi những giấy tờ tùy thân mà tôi đã bị mất và nói là tình cờ nhặt được khi thu gom rác nhà anh M. Sau đó, tôi đã đến gặp trực tiếp anh M xin lại số tiền đã mất và sẽ gửi lại anh M 1 triệu đồng để cám ơn. Sau một hồi tranh luận, anh M đã thừa nhận là nhặt được ví tiền của tôi song nhất quyết không chịu trả tôi số tiền 20 triệu đồng và nói đã tiêu sài hết rồi. Vậy xin hỏi, hành vi không trả lại tiền của anh M có vi phạm pháp luật không?
Trả lời: Điều 141 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:
“Điều 141. Tội chiếm giữ trái phép tài sản
1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội chiếm giữ tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở lên hoặc cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hoá có giá trị đặc biệt, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.”
Theo đó, chiếm giữ tài sản trái phép được hiểu là hành vi cố ý không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ mười triệu đồng trở lên, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được trả lại tài sản đó theo quy định của pháp luật.
Cũng theo quy định của Điều luật trên, thì các hành vi được nêu trên chỉ bị coi là phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật nhưng người chiếm giữ tài sản vẫn không trả lại hoặc không giao nộp.
Tội phạm bị coi là hoàn thành từ thời điểm người chiếm giữ tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay thẳng không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản theo quy định của pháp luật.
Như vậy, hành vi không trả lại tiền của anh M là vi phạm pháp luật hình sự, cụ thể là phạm tội chiếm giữ tài sản trái phép quy định tại Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 1999. Nếu anh M nhất quyết không chịu trả anh số tiền 20 triệu đồng, thì anh có thể báo Công an để giải quyết.

Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia 




Quý khách có nhu cầu tư vấn luật hoặc sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ: 1900.6287
---->>  LUẬT SƯ TƯ VẤN (24/7) GỌI: 1900.6287
---->>  Gửi yêu cầu dịch vụ hoặc yêu cầu đến luật sư
---->>  Tham khảo dịch vụ pháp lý và tìm hiểu kiến thức luật tại: http://luattrangia.com
---->>  Bản quyền thuộc về Công ty Luật TNHH MTV Trần Gia



Bài viết cùng chủ đề




Bài viết liên quan

X
Đặt câu hỏi
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Nhận hồ sơ trực tuyến
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Yêu cầu gọi lại
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
Danh sách đối tác
Liên hệ ngay 🠪