Hình sự

Quy định về tội cướp tài sản

Cập nhật ngày: 25/07/2015
Câu hỏi: Bản tính vốn lười lao động, nên sau khi chồng chết, A bán dần mọi thứ trong nhà để tiêu sài mà không nghĩ đến việc tìm kiếm việc làm nuôi bản thân. Đến khi không còn thứ gì để bán nữa, A bèn nghĩ cách pha chế thuốc mê để đi cướp tài sản. Qua theo dõi, nắm bắt được lịch trình sinh hoạt nhà bà B – họ hàng xa nhà chồng, ngày 20/02/2012, sau khi các con bà B đi làm hết, A vờ có công chuyện gần đó nên tiện ghé thăm bà B. Trong lúc bà B không để ý, A đã bỏ thuốc mê vào cốc nước của bà. Cùng lúc đó, thấy cổng nhà bà B vẫn hé mở nên bà C, ông D đẩy cửa vào để rủ bà B cùng đi sinh hoạt tổ hưu trí và phát hiện A đang thực hiện hành vi tháo chiếc dây vàng 9,999 có trọng lượng 3 chỉ của bà B nên truy hô. Vậy xin hỏi hành vi của A đã phạm vào tội gì?
Trả lời: Tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về tội cướp tài sản như sau:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.”
Theo quy định trên của Điều luật thì một trong những hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Trong đó, hành vi khác làm cho người bị tấn công làm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi làm cho người bị tấn công tuy biết sự việc đang xảy ra nhưng không có cách nào chống cự được (như bị trói, bị nhét giẻ vào mồm không kêu cứu được, bị nhốt vào buồng kín không thể chạy đi cầu cứu...), hoặc tuy không bị nguy hại đến tính mạng, sức khỏe nhưng không thể nhận thức được sự việc đang xảy ra (như lén lút cho ngửi hoặc cho uống thuốc mê làm nạn nhân bị mê man, bất tỉnh trong chốc lát đủ thời gian để lấy tài sản...). Đây là tội phạm có cấu thành hình thức nên tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi được mô tả trong Điều luật trên, không kể người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không.
Theo đó, hành vi của A đã phạm vào tội cướp tài sản quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia




Quý khách có nhu cầu tư vấn luật hoặc sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ: 1900.6287
---->>  LUẬT SƯ TƯ VẤN (24/7) GỌI: 1900.6287
---->>  Gửi yêu cầu dịch vụ hoặc yêu cầu đến luật sư
---->>  Tham khảo dịch vụ pháp lý và tìm hiểu kiến thức luật tại: http://luattrangia.com
---->>  Bản quyền thuộc về Công ty Luật TNHH MTV Trần Gia



Bài viết cùng chủ đề




Bài viết liên quan

X
Đặt câu hỏi
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Nhận hồ sơ trực tuyến
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Yêu cầu gọi lại
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
Danh sách đối tác
Liên hệ ngay 🠪