Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Cập nhật ngày: 25/07/2015
Câu hỏi: Dùng thủ đoạn tự giới thiệu mình là bạn học thân của vợ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C, A (35 tuổi) đã nói với một số người có nhu cầu tìm việc làm là có thể xin việc cho tại Ủy ban nhân dân tỉnh. Chi phí cho việc giới thiệu, làm các thủ tục hết 150 triệu đồng. Thấy thông tin về vợ ông chủ tịch mà A đưa ra đúng là có thật, nên ông D đã đồng ý đưa tiền cho A để nhờ A xin việc cho con. Sau khi nhận tiền và tiêu sài hết, A đã bỏ trốn. Vậy, hành vi của A đã phạm tội gì?
Trả lời: Tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”
Theo đó, mặt khách quan của tội phạm được thể hiện bởi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách gian dối. Người phạm tội đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin đó là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản của mình cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Trong đó, hành vi gian dối là điều kiện và thủ đoạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và kết quả của hành vi gian dối. Thủ đoạn gian dối rất đa dạng, có thể thông qua lời nói, sử dụng giấy tờ giả hoặc giả danh người có chức vụ, quyền hạn...
Về thời điểm hoàn thành của tội phạm phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể nêu tại khoản 1 của Điều luật, cụ thể:
- Trường hợp 1: Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai triệu đồng trở lên;
- Trường hợp 2: Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng gây ra hậu quả nghiêm trọng;
- Trường hợp 3: Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chưa được xóa án tích, thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng.
Đối chiếu với quy định trên của pháp luật cho thấy, hành vi của A đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Trân trọng!
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”
Theo đó, mặt khách quan của tội phạm được thể hiện bởi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách gian dối. Người phạm tội đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin đó là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản của mình cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Trong đó, hành vi gian dối là điều kiện và thủ đoạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và kết quả của hành vi gian dối. Thủ đoạn gian dối rất đa dạng, có thể thông qua lời nói, sử dụng giấy tờ giả hoặc giả danh người có chức vụ, quyền hạn...
Về thời điểm hoàn thành của tội phạm phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể nêu tại khoản 1 của Điều luật, cụ thể:
- Trường hợp 1: Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai triệu đồng trở lên;
- Trường hợp 2: Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng gây ra hậu quả nghiêm trọng;
- Trường hợp 3: Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chưa được xóa án tích, thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng.
Đối chiếu với quy định trên của pháp luật cho thấy, hành vi của A đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










