Thế nào là các tội xâm phạm sở hữu? Các tội xâm phạm sở hữu gồm những tội danh nào?
Cập nhật ngày: 25/07/2015
Câu hỏi: Thế nào là các tội xâm phạm sở hữu? Các tội xâm phạm sở hữu gồm những tội danh nào?
Trả lời: Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XIV của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 1999), do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và của cá nhân.
Trong đó, năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi của mình và điều khiển được hành vi theo đòi hỏi của xã hội. Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng kiềm chế hành vi đó để lựa chọn hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.
Vậy nên, năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để xác định một người có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể có lỗi và mới có thể là chủ thể của tội phạm khi đã đạt độ tuổi nhất định.
Khác với pháp luật dân sự, pháp luật hình sự Việt Nam quy định năng lực trách nhiệm hình sự gián tiếp thông qua việc quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 Bộ luật Hình sự 1999) và quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13 Bộ luật Hình sự 1999). Cụ thể như sau:
“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
“Điều 13. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Chương XIV của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định 13 tội xâm phạm sở hữu, gồm:
- Điều 133. Tội cướp tài sản
- Điều 134. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản
- Điều 136. Tội cướp giật tài sản
- Điều 137. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
- Điều 138. Tội trộm cắp tài sản
- Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Điều 141. Tội chiếm giữ trái phép tài sản
- Điều 142. Tội sử dụng trái phép tài sản
- Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
- Điều 144. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước
- Điều 145. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia
Trong đó, năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi của mình và điều khiển được hành vi theo đòi hỏi của xã hội. Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng kiềm chế hành vi đó để lựa chọn hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.
Vậy nên, năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để xác định một người có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể có lỗi và mới có thể là chủ thể của tội phạm khi đã đạt độ tuổi nhất định.
Khác với pháp luật dân sự, pháp luật hình sự Việt Nam quy định năng lực trách nhiệm hình sự gián tiếp thông qua việc quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 Bộ luật Hình sự 1999) và quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13 Bộ luật Hình sự 1999). Cụ thể như sau:
“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
“Điều 13. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Chương XIV của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định 13 tội xâm phạm sở hữu, gồm:
- Điều 133. Tội cướp tài sản
- Điều 134. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản
- Điều 136. Tội cướp giật tài sản
- Điều 137. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
- Điều 138. Tội trộm cắp tài sản
- Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Điều 141. Tội chiếm giữ trái phép tài sản
- Điều 142. Tội sử dụng trái phép tài sản
- Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
- Điều 144. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước
- Điều 145. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










