Hình sự

Thủ trưởng cơ quan điều tra có quyền ra quyết định tạm giam?

Cập nhật ngày: 05/09/2015
Câu hỏi: Sau khi xác minh có dấu hiệu tội phạm của tội lừa đảo xảy ra trên địa bàn huyện mình, Cơ quan điều tra quận Đ thành phố H ra quyết định khởi tố vụ án về tội lừa đảo theo khoản 1 Điều 139 BLHS và phát hiện người thực hiện hành vi phạm tội là A, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đối với A và đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can.
1. Việc đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan điều tra quận Đ là đúng hay sai? Tại sao?
2. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định ngoài A trong vụ án còn có T là đồng phạm và xét thấy cần tạm giam T để đảm bảo thuận lợi cho việc điều tra nên Thủ trưởng Cơ quan điều tra quận Đ đã ra lệnh tạm giam T.
Xin hỏi Quyết định của Thủ trưởng Cơ quan điều tra quận Đ là đúng hay sai? Tại sao?
3. Giả sử sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra chỉ đề nghị truy tố A và ra quyết định đình chỉ điều tra đối với T vì cho rằng T không thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy việc đề nghị truy tố A là có căn cứ nhưng quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra là không có căn cứ và có đầy đủ căn cứ để truy tố T, Viện kiểm sát quận Đ ra quyết định hủy bỏ quyết định đình chỉ Điều tra và quyết định truy tố T về tội lừa đảo. Xin hỏi, việc làm của Viện kiểm sát quận Đ là đúng hay sai? Tại sao?
4. Giả sử khi Viện kiểm sát quận Đ chuyển hồ sơ vụ án và quyết định truy tố T và A về tội chiếm đoạt tài sản cho Tòa án quận Đ, Tòa án thấy có căn cứ xác định T và A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 140 BLHS, Tòa án phải giải quyết như thế nào?
5. Khi bắt đầu phiên tòa, đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử thay đổi 1 trong 2 vị Hội thẩm vì cho rằng vị Hội thẩm này có quan hệ thân thích với người bào chữa của T. Xin hỏi, Hội đồng xét xử phải giải quyết như thế nào nếu thấy lý do của người đại diện hợp pháp của người bị hại đưa ra là đúng?
6. Giả sử tại phiên tòa, người bào chữa đưa ra tài liệu mới xác định T 16 tuổi 11 tháng. Xin hỏi Hội đồng xét xử phải giải quyết như thế nào?
7. Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi kết thúc việc xét hỏi, bị cáo yêu cầu đưa thêm vật chứng ra xem xét. Xin hỏi, Hội đồng xét xử giải quyết như thế nào?
8. Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, có căn cứ cho rằng T còn phạm thêm tội trộm cắp tài sản xét thấy cần phải điều tra, Hội đồng xét xử phải giải quyết như thế nào?
9. Giả sử trong thời hạn luật định, chỉ có T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, T rút toàn bộ kháng cáo, Hội đồng xét xử giải quyết như thế nào?
10. Xác định chủ thể có thẩm quyền giám đốc thẩm trong trường hợp bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố H bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm?
Trả lời: 1. Thứ nhất: Việc đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án là sai. Vì theo quy định tại khoản 1 Điều 104 BLTTHS: “Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự” và theo khoản 3 Điều 104 BLTTHS quy định: “Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự... quyết định khởi tố kèm theo tài liệu liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được gửi tới Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố”. Vì thế, trong trường hợp Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì “quyết định khởi tố kèm theo tài liệu liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra...phải được gửi tới Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố” trong thời hạn 24 giờ. Như vậy, Cơ quan điều tra có quyền ra quyết định khởi tố vụ án rồi mới gửi quyết định cho Viện kiểm sát mà không cần thiết phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. Và nếu “trong trường hợp quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra...không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố đó” (khoản 2 Điều 109 BLTTHS).

Thứ hai: Việc đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố bị can là đúng. Vì theo quy định tại khoản 4 Điều 126 BLTTHS: “Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can đó cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.” Như vậy, quyết định khởi tố bị can phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát mới có hiệu lực và đây là thủ tục bắt buộc.

Quyết định khởi tố vụ án khác với quyết định khởi tố bị can. Việc khởi tố vụ án hình sự chỉ là việc cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm. Và đây là cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện việc điều tra. Nhưng khởi tố bị can là việc cơ quan có thẩm quyền xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội. Quyết định này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, danh dự, nhân phẩm của bị can nên việc đưa ra quyết định này phải được xem xét kỹ lưỡng và phải chịu sự kiểm sát chặt chẽ của cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát là Viện kiểm sát.

2. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định ngoài A trong vụ án còn có T là đồng phạm và xét thấy cần tạm giam T để đảm bảo thuận lợi cho việc điều tra nên Thủ trưởng Cơ quan điều tra quận Đ đã ra lệnh tạm giam T. Vì:
Bắt người trong trường hợp này là thuộc trường hợp bắt bị can để tạm giam nhằm đảm bảo thuận lợi cho việc Điều tra. Nhưng:
Thứ nhất: Đối với bị bắt để tạm giam chỉ có thể là bị can hoặc bị cáo. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra mới chỉ xác định T cũng là đồng phạm trong vụ án, và xét thấy cần tạm giam để điều tra, nhưng theo như dữ kiện ở trên thì không nói đến việc T đã bị khởi tố. Nếu một người chưa bị khởi tố thì chỉ được bắt người (áp dụng các biện pháp cưỡng chế) trong trường hợp khẩn cấp (khoản 1 Điều 81 BLTTHS) hoặc phạm tội quả tang (khoản 1 Điều 82 BLTTHS). Tuy nhiên trong trường hợp này, T không thuộc các trường hợp khẩn cấp hay quả tang. Như vậy, việc bắt người này là trái pháp luật.

Thứ hai: Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 BLTTHS thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp có quyền ra lệnh bắt và lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Như vậy, việc Thủ trưởng Cơ quan điều tra đưa ra lệnh bắt thì phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp. Như vậy, trong trường hợp này, lệnh bắt là trái pháp luật.
Có thể thấy, một người chỉ bị bắt tạm giam khi có căn cứ cho rằng người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, việc bắt tạm giam họ là nhằm ngăn chặn người đó tiếp tục thực hiện phạm tội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra. Chứng tỏ Cơ quan điều tra đã có căn cứ để xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Hay nói cách khác, một người phải bị khởi tố về hành vi đó thì mới có thể bắt họ được. Và việc bắt người làm ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp, danh dự, nhân phẩm của họ, vì vậy phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát.

3. Giả sử sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra chỉ đề nghị truy tố A và ra quyết định đình chỉ đối với T vì cho rằng T không thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy đề nghị truy tố A là có căn cứ nhưng quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra là không có căn cứ và có đầy đủ căn cứ để truy tố T, Viện kiểm sát quận Đ ra quyết định hủy quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố T về tội lừa đảo.
Việc quyết định đình chỉ điều tra của Viện kiểm sát quận Đ là đúng căn cứ vào các quy định của BLTTHS:
Thứ nhất: Điểm đ khoản 2 Điều 36 BLTTHS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát như sau: “Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc thuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng với vụ án hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
đ) Quyết định hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra”.

Thứ hai: Khoản 5 Điều 112 BLTTHS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra như sau: “Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
(5) Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra;...”

Thứ ba: Khoản 4 Điều 164 BLTTHS quy định về đình chỉ điều tra như sau: “Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố. Thời hạn ra quyết định truy tố được thực hiện theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật này”.
Trong trường hợp này Viện kiểm sát thấy quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra là không có căn cứ, do đó việc Viện kiểm sát quận Đ ra quyết định hủy quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố T về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ xảy ra hai trường hợp:
- Nếu Viện kiểm sát quận Đ ra quyết định hủy quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố T về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra thì hoàn toàn đúng pháp luật.
- Nếu Viện kiểm sát quận Đ ra quyết định hủy quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố T về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quá thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra là trái quy định của pháp luật.

4. Giả sử sau khi Viện kiểm sát quận Đ chuyển hồ sơ vụ án và quyết định truy tố T và A về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho Tòa án quận Đ, khi nghiên cứu hồ sơ, Tòa án thấy có căn cứ xác định T và A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 140 BLHS.
Trường hợp này, Tòa án cần giải quyết như sau: Trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung dựa vào những căn cứ sau:
Trong giả sử này khi Tòa án nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát quận Đ lại thấy có căn cứ xác định T và A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 140 BLHS mà Viện kiểm sát quận Đ lại ra quyết định truy tố T và A về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 139 BLHS. Như vậy Tòa án quận Đ và Viện kiểm sát quận Đ có căn cứ xác định hai tội khác nhau cho A và T. Theo khoản 1 Điều 139 BLHS quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”
Tại khoản 2 Điều 140 BLHS quy định về tội làm dụng chiếm đoạt tài sản như sau: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm;
e) Gây hậu quả nghiêm trọng.”
Theo quy định trên, Tòa án có căn cứ xác định A và T phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 140 BLHS là tội có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm (tội phạm nghiêm trọng) nặng hơn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở khoản 1 Điều 139 BLHS với khung hình phạt bị cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm (tội phạm ít nghiêm trọng). Mà theo quy định của Điều 196 BLTTHS về giới hạn của việc xét xử quy định “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.
Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.” Như vậy, theo quy định này Tòa án không được xét xử những người và những hành vi chưa được Viện kiểm sát truy tố và không xét xử bị cáo theo tội nặng hơn.
Trong trường hợp này, Tòa án không thể xét xử A và T với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 140 BLHS nặng hơn so với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 139 BLHS, thì Tòa án trả lại hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung và thay đổi cáo trạng (vì theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 BLTTHS, Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác).

5. Khi bắt đầu phiên tòa, đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử thay đổi 1 trong 2 vị Hội thẩm vì cho rằng vị Hội thẩm này có quan hệ thân thích với người bào chữa của T. Hội đồng xét xử phải giải quyết như thế nào nếu thấy lý do của đại diện hợp pháp của người bị hại đưa ra là đúng?
Xét xử vô tư và khách quan là một trong những yêu cầu rất quan trọng đối với những thành viên trong Hội đồng xét xử. Yêu cầu này gắn liền với việc thực hiện nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Để loại trừ mọi quan hệ của Hội thẩm đối với vụ án có thể làm cho việc xét xử không vô tư, công bằng và khách quan. Điều 42 và Điều 46 BLTTHS quy định những trường hợp Hội thẩm phải từ chối hoặc bị thay đổi theo đề nghị của người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng hình sự (Kiểm sát viên; bị can, bị cáo, người bị hại; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ; người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự). Cụ thể là:
- Họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của người đó hoặc của bị can, bị cáo (người thân thích là những người có quan hệ họ hàng gần như: là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; là cụ nội, cụ ngoại của một trong những người trên đây; là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; là cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột);
- Nếu Hội thẩm đã tham gia vụ án với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó;
- Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ (ngoài các trường hợp được quy định trên đây) như trong quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế... Ví dụ: Hội thẩm là anh em kết nghĩa của bị can, bị cáo; Thẩm phán là con rể của bị cáo; người bị hại là Thủ trưởng cơ quan, nơi vợ của Thẩm phán làm việc... mà có căn cứ rõ ràng chứng minh là trong cuộc sống giữa họ có mối quan hệ tình cảm thân thiết với nhau, có mối quan hệ về kinh tế...;
- Thẩm phán, Hội thẩm trong cùng một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau.
- Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án.
Trong trường hợp này, người đưa ra yêu cầu đề nghị thay đổi Hội thẩm là đại diện hợp pháp của người bị hại, họ là chủ thể có quyền đưa ra yêu cầu. Lý do người đó đưa ra yêu cầu là vì họ cho rằng vị Hội thẩm này có quan hệ thân thích với người bào chữa của T. Người bào chữa (Luật sư, người đại diện hợp pháp của T, bào chữa viên nhân dân) tham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giam, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giam, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giam, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Vì vậy, Hội thẩm là người thân thích của người bào chữa của T hoàn toàn có thể là căn cứ cho rằng người đó sẽ không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
Do đó, nếu thấy lý do của người đại diện hợp pháp của người bị hại đưa ra là đúng thì theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLTTHS, Hội đồng xét xử phải giải quyết như sau: sau khi người đề nghị thay đổi Hội thẩm nói rõ lý do mà mình yêu cầu thay đổi, Hội thẩm yêu cầu có quyền trình bày để phản bác những lý do đề nghị thay đổi họ. Việc thay đổi do Hội đồng xét xử quyết định trong phòng nghị án bằng cách biểu quyết theo đa số.
Nếu phải thay đổi Hội thẩm thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và Chánh án Tòa án sẽ cử thành viên mới của Hội đồng xét xử.

6. Giả sử tại phiên tòa, người bào chữa đưa ra tài liệu mới xác định T 16 tuổi 11 tháng. Hội đồng xét xử sẽ giải quyết như sau:
Việc người bào chữa đưa ra tài liệu mới ở phiên tòa sơ thẩm là quyền của người bào chữa (khoản 2 Điều 58 - BLTTHS). Việc tài liệu đó có được công nhận hay không là do sự xác minh của Hội đồng xét xử. Như vậy, có hai trường hợp xảy ra:
Trường hợp thứ nhất: Người bào chữa đưa ra tài liệu mới xác định T 16 tuổi 11 tháng rõ ràng là không có căn cứ. Hội đồng xét xử sẽ tiếp tục xử án theo như hồ sơ vụ án và các chứng cứ xác đáng khác để xét xử.
Trường hợp thứ hai: Người bào chữa đưa ra tài liệu mới xác định T 16 tuổi 11 tháng là đúng hoặc đã được giám định rõ ràng thì Hội đồng xét xử sẽ phải ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung theo khoản 2 Điều 199 BLTTHS năm 2003. Vì các lý do sau:
Thứ nhất: Người bào chữa đưa ra tài liệu xác đáng, hợp pháp chứng minh T đúng là 16 tuổi 11 tháng thì T là người chưa thành niên. Khi đó, trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử áp dụng đối với T phải là thủ tục đặc biệt - thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Thủ tục tố tụng đặc biệt này có rất nhiều điểm khác so với thủ tục tố tụng đối với người thành niên. T là người chưa thành niên, nhưng vì lý do nào đó, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm) không phát hiện ra, nên đã áp dụng thủ tục tố tụng thông thường đối với T từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nên đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Vì thế, Hội đồng xét xử trong phiên tòa sơ thẩm không thể tiếp tục xét xử như bình thường.

Thứ hai: Khi phiên tòa sơ thẩm diễn ra thì mọi quyết định của tòa án về vụ án phải do Hội đồng xét xử quyết định. Theo Điều 199 BLTTHS thì ngoài việc ra bản án thì Hội đồng xét xử chỉ được ra quyết định sau: Quyết định về việc thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử (Điều 46 BLTTHS), Kiểm sát viên (Điều 45 BLTTHS), Thư ký Tòa án (Điều 47 BLTTHS), người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và về việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo.
Như vậy, với hai lý do trên, nếu Hội đồng xét xử không ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung để Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sửa chữa những sai lầm trong thủ tục tố tụng đối với bị cáo T thì nếu bản sơ thẩm có được đưa ra thì chắc chắn sẽ bị hủy bởi tòa án phúc thẩm vì lý do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

7. Trong BLTTHS và các văn bản pháp luật có liên quan không có điều khoản nào quy định cụ thể trường hợp sau khi kết thúc việc xét hỏi, bị cáo yêu cầu đưa thêm vật chứng ra xem xét, Hội đồng xét xử phải giải quyết sao. Vì vậy, khi xảy ra tình huống này ta phải viện dẫn những điều khoản liên quan để đưa ra cơ sở pháp lý cho việc giải quyết vấn đề của Hội đồng xét xử.
Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được quy định trong BLTTHS nhằm xem xét công khai những chứng cứ đã thu được ở giai đoạn điều tra và chứng cứ mới để chứng minh vụ án. Điều 216 BLTTHS quy định: “Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người khác tham gia phiên tòa xem họ có yêu cầu xét hỏi vấn đề gì nữa không. Nếu có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là cần thiết thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc xét hỏi.” Trong tình huống này, bị cáo yêu cầu đưa thêm vật chứng ra xem xét. Do đó, nếu thấy yêu cầu đưa thêm vật chứng ra xem xét. Do đó, nếu thấy yêu cầu này là cần thiết thì Hội đồng xét xử sẽ quyết định tiếp tục việc xét hỏi. Khi trở lại việc xét hỏi có hai trường hợp xảy ra:

Thứ nhất: Giải quyết được yêu cầu của bị cáo, lúc này kết thúc phần xét hỏi chuyển sang các phần tiếp theo của phiên tòa xét xử sơ thẩm theo quy định của BLTTHS.

Thứ hai: Yêu cầu đưa thêm vật chứng ra xem xét của bị cáo không giải quyết được. Nếu như yêu cầu này có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung, còn ngược lại thì sẽ kết thúc phần xét hỏi chuyển sang các phần tiếp theo của phiên tòa xét xử sơ thẩm theo quy định của BLTTHS. Căn cứ pháp lý của việc quyết định yêu cầu điều tra bổ sung:
- Thẩm quyền ra quyết định: Khoản 2 Điều 199 BLTTHS quy định: “Quyết định về việc... yêu cầu điều tra bổ sung... phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản”.
- Căn cứ ra quyết định: Khoản 1 Điều 179 BLTTHS quy định:
“Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau đây:
a) Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;...”
Và cũng theo Khoản 2 Điều 179 BLTTHS: Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết. Trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tuy nhiên, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Tòa án phải chú ý đến số lần được trả mà pháp luật quy định. Trường hợp đã hết quyền được trả thì tất nhiên Tòa án phải tiến hành xét xử vụ án theo những chứng cứ đã có.

8. Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, có căn cứ cho rằng T còn phạm thêm tội trộm cắp tài sản xét thấy cần phải Điều tra, Hội đồng xét xử giải quyết như sau:
- Trường hợp giữa tội danh của bị cáo đã được Viện kiểm sát ra quyết định truy tố và tội danh có căn cứ cấu thành tội phạm của bị cáo là hai vụ án độc lập và để thuận lợi cho quá trình điều tra, xét xử thì: theo Điều 196 BLTTHS quy định về giới hạn của việc xét xử: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử”. Trong trường hợp này Hội đồng xét xử chỉ xét xử tội danh mà T đã bị Viện kiểm sát truy tố, sau đó Hội đồng xét xử sẽ tự mình ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án mới theo quy định tại đoạn 3 khoản 1 Điều 104 BLTTHS: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra”. Trong trường hợp hành vi trên có cấu thành tội phạm thì vẫn phải tiến hành theo trình tự thủ tục tố tụng mà BLTTHS quy định. Việc tổng hợp hình phạt được thực hiện theo Điều 51 BLHS.
- Trường hợp giữa tội danh của bị cáo đã được Viện kiểm sát ra quyết định truy tố và tội danh có căn cứ cấu thành tội phạm của bị cáo có mối liên quan mật thiết đến nhau, không thể tách rời thành hai vụ án hoàn toàn độc lập: Nếu căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, hành vi của bị cáo ngoài việc cấu thành tội mà Viện kiểm sát đã truy tố còn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nữa thì Hội đồng xét xử phải có yêu cầu điều tra bổ sung (căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 199 BLTTHS).

9. Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ phải đình chỉ việc xét xử và bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.
Điều 238 BLTTHS quy định về bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị như sau:
“1. Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị.
2. Trong trường hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.”
Điều luật này đã quy định cụ thể các vấn đề rút kháng cáo, theo đó thì việc rút kháng cáo chỉ được coi là hợp pháp nếu thỏa mãn các điều kiện:
- Chủ thể rút kháng cáo là người đã kháng cáo.
- Thời điểm rút kháng cáo là trước khi bắt đầu phiên tòa phúc thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm.
Một vấn đề cần lưu ý là việc rút kháng cáo được chia thành hai trường hợp, trường hợp rút kháng cáo một phần hoặc rút kháng cáo toàn bộ, hậu quả pháp lý của hai trường hợp rút này khác nhau: Nếu người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc có người rút, có người không (trong trường hợp có nhiều người kháng cáo) thì phiên tòa xét xử phúc thẩm vẫn được mở để xét xử phần còn lại (phần chưa được rút của kháng cáo hoặc phần kháng cáo của người khác), nếu kháng cáo được rút toàn bộ thì phiên tòa phúc thẩm đương nhiên sẽ bị đình chỉ việc xét xử.
Ngoài ra, thời điểm rút kháng cáo cũng ảnh hưởng tới thẩm quyền ra quyết định đình chỉ xét xử vụ án, theo sự hướng dẫn của Nghị định số 05/2005/NQ-HĐTP: nếu việc rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa thì việc ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm do Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa thực hiện, còn tại phiên tòa do Hội đồng xét xử thực hiện.
Đối chiếu với tình huống đề bài ra ta thấy, trong trường hợp này, Tòa án phúc thẩm được mở ra chỉ để giải quyết kháng cáo của một mình bị cáo T, nhưng tại phiên tòa T đã rút toàn bộ kháng cáo của mình. Như trên đã phân tích, Hội đồng xét xử phải ra quyết định đình chỉ việc xét xử, vì trong vụ án không còn có kháng cáo cũng như kháng nghị của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, để việc đình chỉ xét vụ án đúng trình tự, thủ tục trước khi đình chỉ việc xét xử, Tòa án, trực tiếp là Hội đồng xét xử phải lập văn bản việc rút kháng cáo của bị cáo.

10. Chủ thể có thẩm quyền giám đốc thẩm trong trường hợp bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được xác định:
Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án. Khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 273 BLTTHS, chủ thể có quyền kháng nghị sẽ làm đơn kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
Trong tình huống bài tập đưa ra, nếu bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố H bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì chủ thể có thẩm quyền giám đốc thẩm ở trường hợp này sẽ được xác định căn cứ vào khoản 2 Điều 279 BLTTHS:
“Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu”.
Vậy, chủ thể có thẩm quyền giám đốc thẩm trong trường hợp bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố H bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao.

Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia




Quý khách có nhu cầu tư vấn luật hoặc sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ: 1900.6287
---->>  LUẬT SƯ TƯ VẤN (24/7) GỌI: 1900.6287
---->>  Gửi yêu cầu dịch vụ hoặc yêu cầu đến luật sư
---->>  Tham khảo dịch vụ pháp lý và tìm hiểu kiến thức luật tại: http://luattrangia.com
---->>  Bản quyền thuộc về Công ty Luật TNHH MTV Trần Gia



Bài viết cùng chủ đề




Bài viết liên quan

X
Đặt câu hỏi
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Nhận hồ sơ trực tuyến
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Yêu cầu gọi lại
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
Danh sách đối tác
Liên hệ ngay 🠪