Hình sự

Tố giác người lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở đâu?

Cập nhật ngày: 17/08/2015
Câu hỏi: Tháng 12/2007, anh Đinh Mạnh H nhờ một người bạn là Mai Văn T sang Trung Quốc mời chuyên gia lắp đặt dây chuyền máy xay xát lúa mỳ cho Công ty của anh H. Mai Văn T đã dùng giấy khống chỉ của Công ty mậu dịch Trung Quốc rồi làm bản fax giả đề ngày 20/6/2008 trên danh nghĩa Công ty mậu dịch Trung Quốc gửi Công ty của anh H với nội dung: “Nếu phía Việt Nam muốn lắp đặt dây chuyền máy xay xát lúa mỳ công suất 100 tấn/ngày, thì phải thanh toán chi phí lắp đặt máy là 190.600 USD và đề nghị phải thanh toán trước cho Công ty Trung Quốc 50.000 USD vào ngày 01/7/2008, số còn lại nhận sau khi lắp máy xong”. Làm xong bản fax giả này, Mai Văn T mang đến nhà anh H. Vì tin bạn và tin đó là fax thật của Công ty mậu dịch Trung Quốc nên anh H đồng ý đã giao cho Mai Văn T số tiền là 50.000 USD. Mai Văn T đã dùng số tiền này để kinh doanh, buôn bán, thu lợi cá nhân. Anh H phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?
Trả lời: Điều 139 BLHS 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Căn cứ vào các quy định trên và các tình tiết của vụ án, hành vi mà Mai Văn T thực hiện có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, nếu muốn bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình, anh Đinh Mạnh H phải tố giác tội phạm này với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Theo quy định tại Điều 100 và Điều 101 BLTTHS Việt Nam hiện hành thì tố giác của anh H chính là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nhằm trừng trị người phạm tội và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của anh H nói riêng và của mọi công dân nói chung.

Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia




Quý khách có nhu cầu tư vấn luật hoặc sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ: 1900.6287
---->>  LUẬT SƯ TƯ VẤN (24/7) GỌI: 1900.6287
---->>  Gửi yêu cầu dịch vụ hoặc yêu cầu đến luật sư
---->>  Tham khảo dịch vụ pháp lý và tìm hiểu kiến thức luật tại: http://luattrangia.com
---->>  Bản quyền thuộc về Công ty Luật TNHH MTV Trần Gia



Bài viết cùng chủ đề




Bài viết liên quan

X
Đặt câu hỏi
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Nhận hồ sơ trực tuyến
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Yêu cầu gọi lại
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
Danh sách đối tác
Liên hệ ngay 🠪