Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Cập nhật ngày: 25/07/2015
Câu hỏi: A là nhân viên của ngành điện. Ngày 23/01/2012, do anh B bận có chuyện gia đình nên chỉ có A đi ghi nốt chỉ số công tơ điện của một số hộ dân tại cụm dân cư số 5. Vì bên này cột điện, gia đình ông X đang xếp gạch để xây nhà nên anh A để xe bên kia đường và trèo lên cột điện đọc đồng hồ. Thấy anh A đang tập trung ghi số điện, C (30 tuổi) ở dưới nhanh chóng thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy của A phóng đi. Vậy xin hỏi, hành vi của C đã phạm tội gì?
Trả lời: Tại Điều 137 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản như sau:
“1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Hành hung để tẩu thoát;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.”
Theo tác giả Lê Văn Luật, mặc dù điều luật không mô tả tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là như thế nào nhưng thực tiễn xét xử cho thấy tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là việc người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trong điều kiện người quản lý tài sản hoặc người chủ sở hữu về tài sản không có điều kiện bảo vệ tài sản của mình hoặc ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. Khác với các tội chiếm đoạt tài sản khác, khi thực hiện hành vi phạm tội người phạm tội không cần và không có ý định dùng bất cứ thủ đoạn nào để đối phó với người có trách nhiệm về tài sản; cũng không cần dùng vũ lực hay thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần chủ tài sản. Theo đó, hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản gồm các đặc điểm sau:
- Hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội thực hiện khi chủ quản lý tài sản hoặc người chủ sở hữu về tài sản do hoàn cảnh khách quan mà không thể bảo vệ được tài sản của mình hoặc ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.
- Người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai.
- Sau khi chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội có thể có thêm hành vi nhanh chóng tẩu thoát .
Theo như diễn biến trên của vụ án, thì hành vi của C đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 137 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Trân trọng!
“1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Hành hung để tẩu thoát;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.”
Theo tác giả Lê Văn Luật, mặc dù điều luật không mô tả tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là như thế nào nhưng thực tiễn xét xử cho thấy tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là việc người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trong điều kiện người quản lý tài sản hoặc người chủ sở hữu về tài sản không có điều kiện bảo vệ tài sản của mình hoặc ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. Khác với các tội chiếm đoạt tài sản khác, khi thực hiện hành vi phạm tội người phạm tội không cần và không có ý định dùng bất cứ thủ đoạn nào để đối phó với người có trách nhiệm về tài sản; cũng không cần dùng vũ lực hay thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần chủ tài sản. Theo đó, hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản gồm các đặc điểm sau:
- Hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội thực hiện khi chủ quản lý tài sản hoặc người chủ sở hữu về tài sản do hoàn cảnh khách quan mà không thể bảo vệ được tài sản của mình hoặc ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.
- Người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai.
- Sau khi chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội có thể có thêm hành vi nhanh chóng tẩu thoát .
Theo như diễn biến trên của vụ án, thì hành vi của C đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 137 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










