Chuyển tài sản sang cho vợ để trốn nợ thì xử lý như thế nào?
Cập nhật ngày: 28/07/2015
Câu hỏi: Do là chỗ bạn bè quen biết nhau từ lâu nên tôi đã tin tưởng cho anh N vay 300 triệu đồng (có giấy biên nhận lập ngày 29/10/2013). Đến tháng 01/2015, do có nhu cầu về vốn, tôi yêu cầu anh N trả tôi số tiền trên song anh N nhiều lần khất nợ với lý do tình hình kinh doanh đang gặp khó khăn hoặc tránh mặt tôi. Khoảng tháng 02/2015, tôi tình cờ gặp một người bạn cũng có cho anh N vay tiền thì được biết công ty của anh N đã giải thể và ngay sau đó những tài sản của anh N đã được chuyển giao cho chị H - vợ anh N bằng văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng đã được công chứng ngày 05/3/2015. Vậy, việc chia tài sản chung của vợ chồng anh N như vậy có hợp pháp không? Khoản nợ anh N vay tôi sẽ được giải quyết như thế nào?
Trả lời: Điểm d khoản 2 Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức không được pháp luật công nhận.
Như vậy, mặc dù văn bản chia tài sản chung của vợ chồng anh N đã được công chứng song nếu anh, với tư cách là người có quyền, lợi ích liên quan, có chứng cứ chứng minh được việc chia tài sản chung này là để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho anh thì Tòa án sẽ tuyên bố văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng anh N vô hiệu. Tiếp theo đó, anh có thể khởi kiện vụ án dân sự về đòi nợ để đòi lại số tiền 300 triệu đồng đã cho anh N vay.
Việc anh yêu cầu Tòa án buộc anh N trả nợ cần được thực hiện trong thời hiệu do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Cụ thể, tại khoản 3, 4 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định:
“3. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau:
a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện;
b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
4. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ các việc dân sự có liên quan đến quyền dân sự về nhân dân của cá nhân thì không áp dụng thời hiệu yêu cầu.”
Trân trọng!
Như vậy, mặc dù văn bản chia tài sản chung của vợ chồng anh N đã được công chứng song nếu anh, với tư cách là người có quyền, lợi ích liên quan, có chứng cứ chứng minh được việc chia tài sản chung này là để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho anh thì Tòa án sẽ tuyên bố văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng anh N vô hiệu. Tiếp theo đó, anh có thể khởi kiện vụ án dân sự về đòi nợ để đòi lại số tiền 300 triệu đồng đã cho anh N vay.
Việc anh yêu cầu Tòa án buộc anh N trả nợ cần được thực hiện trong thời hiệu do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Cụ thể, tại khoản 3, 4 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định:
“3. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau:
a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện;
b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
4. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ các việc dân sự có liên quan đến quyền dân sự về nhân dân của cá nhân thì không áp dụng thời hiệu yêu cầu.”
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










