Tư vấn các tình huống liên quan đến luật lao động
Cập nhật ngày: 03/12/2015
Câu hỏi: 1) Tình huống 1:
Chị H làm việc tại Công ty Phú Thịnh loại hợp đồng có xác định thời hạn, làm công việc kỹ thuật viên vi tính, địa điểm làm việc tại Quận 1 và mức lương được trả là 3.100.000đ trả vào ngày 30 hàng tháng (tháng, dương lịch). Tuy nhiên, tiền lương hàng tháng chị H được lĩnh bị trể hơn so với thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Do đó, qua 03 tháng làm việc chị H quyết định gửi đơn xin nghĩ việc và sau 03 ngày làm việc là chị H đã chấm dứt hợp đồng lao động. Như vậy chị H chấm dứt hợp đồng lao động là đúng hay sai/ Vì sao? Căn cứ các quy định pháp luật giải quyết trường hợp này như thế nào có lợi cho người lao động?
2) Tình huống 2:
Anh An đã làm việc tại Công ty Đồng Tiến được 10 năm loại hợp đồng không xác định thời hạn (từ năm 2005 đến năm 2015 và Công ty đã tham gia BHTN cho anh từ tháng 01 năm 2009), vào tháng 8 năm 2015 anh An lên trình bày trưởng phòng nhân sự xin nghĩ việc và đề nghị Công ty chi trả trợ cấp thôi việc trong thời gian làm việc tại Công ty. Được trưởng phòng nhân sự thông báo anh An chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật. Vậy trưởng phòng nhân sự phát biểu chỉ trả trợ cấp thất nghiệp là đúng hay sai? Vì sao? Công ty có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc, mất việc, BHTN hoặc Công ty cho tổng thời gian anh An làm việc? Cụ thể quy định hiện hành giải quyết trong trường hợp trên?
3) Tình huống 3:
Anh P làm việc tại Công ty A theo hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng từ 01/01/2013 đến 31/12/2014. Đến tháng 02/2014 anh P được bầu làm Chủ tịch Công đoàn cơ sở Công ty A, nhiệm kỳ 2014 – 2016 (cán bộ công đoàn không chuyên trách). Ngày 15/12/2014, Công ty A thông báo bằng văn bản chấm dứt hợp đồng lao động với anh P vào thời điểm 31/12/2014, vì thio72 hạn hợp đồng lao động giữa Công ty với anh P hết hiệu lực. Anh P đề nghị Công ty gia hạn hợp đồng lao động nhưng lãnh đạo Công ty không giải quyết. Như vậy, việc Công ty A chấm dứt hợp đồng lao động với anh P là đúng hay sai? Nếu đúng, nêu rõ căn cứ pháp lý? Nếu sai, anh P phải làm gỉ để bảo vệ quyền lợi của mình? Khi đó, quyền lợi của anh P là gì?
Chị H làm việc tại Công ty Phú Thịnh loại hợp đồng có xác định thời hạn, làm công việc kỹ thuật viên vi tính, địa điểm làm việc tại Quận 1 và mức lương được trả là 3.100.000đ trả vào ngày 30 hàng tháng (tháng, dương lịch). Tuy nhiên, tiền lương hàng tháng chị H được lĩnh bị trể hơn so với thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Do đó, qua 03 tháng làm việc chị H quyết định gửi đơn xin nghĩ việc và sau 03 ngày làm việc là chị H đã chấm dứt hợp đồng lao động. Như vậy chị H chấm dứt hợp đồng lao động là đúng hay sai/ Vì sao? Căn cứ các quy định pháp luật giải quyết trường hợp này như thế nào có lợi cho người lao động?
2) Tình huống 2:
Anh An đã làm việc tại Công ty Đồng Tiến được 10 năm loại hợp đồng không xác định thời hạn (từ năm 2005 đến năm 2015 và Công ty đã tham gia BHTN cho anh từ tháng 01 năm 2009), vào tháng 8 năm 2015 anh An lên trình bày trưởng phòng nhân sự xin nghĩ việc và đề nghị Công ty chi trả trợ cấp thôi việc trong thời gian làm việc tại Công ty. Được trưởng phòng nhân sự thông báo anh An chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật. Vậy trưởng phòng nhân sự phát biểu chỉ trả trợ cấp thất nghiệp là đúng hay sai? Vì sao? Công ty có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc, mất việc, BHTN hoặc Công ty cho tổng thời gian anh An làm việc? Cụ thể quy định hiện hành giải quyết trong trường hợp trên?
3) Tình huống 3:
Anh P làm việc tại Công ty A theo hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng từ 01/01/2013 đến 31/12/2014. Đến tháng 02/2014 anh P được bầu làm Chủ tịch Công đoàn cơ sở Công ty A, nhiệm kỳ 2014 – 2016 (cán bộ công đoàn không chuyên trách). Ngày 15/12/2014, Công ty A thông báo bằng văn bản chấm dứt hợp đồng lao động với anh P vào thời điểm 31/12/2014, vì thio72 hạn hợp đồng lao động giữa Công ty với anh P hết hiệu lực. Anh P đề nghị Công ty gia hạn hợp đồng lao động nhưng lãnh đạo Công ty không giải quyết. Như vậy, việc Công ty A chấm dứt hợp đồng lao động với anh P là đúng hay sai? Nếu đúng, nêu rõ căn cứ pháp lý? Nếu sai, anh P phải làm gỉ để bảo vệ quyền lợi của mình? Khi đó, quyền lợi của anh P là gì?
Trả lời: Tình huống 01:
Chị H chấm dứt hợp đồng lao động là đúng.
Theo điểm b khoản 1 điều 37 Bộ luật lao động năm 2013, người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người sử dụng lao động "không trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động”. Trong tình huống này, công ty Phú Thịnh thường xuyên chậm lương của chị H so với thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Chị H có quyền được chấm dứt hợp đồng lao động và đã thông báo trước 03 ngày cho người sử dụng lao động. Như vậy, chị H đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là không trái với quy định của pháp luật.
Tình huống 02:
Điều 48 Luật lao động 2012 quy định:
“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”
Căn cứ vào quy định nêu trên, anh An sẽ được nhận một khoản trợ thôi việc. Thời gian tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc thực tế trừ đi thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc chi trả trợ cấp thôi việc. Công ty sẽ chi trả trợ cấp thôi việc từ 2005 đến 2009, còn từ 2009 thì sẽ đến cơ quan BHXH để làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.
Tình huống 03:
Theo quy định tại khoản 6 điều 192 Bộ luật lao động năm 2012 “Khi người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ.”
Như vậy, trường hợp này, anh P được bầu làm chủ tịch công đoàn cơ sở nhiệm kỳ 2014 -2016. Tuy hợp đồng lao động của anh P có thời hạn đến ngày 31/12/2014 nhưng anh P được phép gia hạn hợp đồng đến hết nhiệm kỳ làm chủ tịch công đoàn công ty.
Trường hợp vẫn còn thắc mắc, mời bạn đến trực tiếp văn phòng chúng tôi, Công ty Luật Trần Gia, địa chỉ: Lô E1, khu Bồ Hỏa, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội hoặc gọi điện đến tổng đài 1900.6287 để được tư vấn trực tiếp.
Cám ơn bạn đã tin tưởng dịch vụ của chúng tôi!
Trân trọng!
Chị H chấm dứt hợp đồng lao động là đúng.
Theo điểm b khoản 1 điều 37 Bộ luật lao động năm 2013, người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người sử dụng lao động "không trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động”. Trong tình huống này, công ty Phú Thịnh thường xuyên chậm lương của chị H so với thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Chị H có quyền được chấm dứt hợp đồng lao động và đã thông báo trước 03 ngày cho người sử dụng lao động. Như vậy, chị H đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là không trái với quy định của pháp luật.
Tình huống 02:
Điều 48 Luật lao động 2012 quy định:
“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”
Căn cứ vào quy định nêu trên, anh An sẽ được nhận một khoản trợ thôi việc. Thời gian tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc thực tế trừ đi thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc chi trả trợ cấp thôi việc. Công ty sẽ chi trả trợ cấp thôi việc từ 2005 đến 2009, còn từ 2009 thì sẽ đến cơ quan BHXH để làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.
Tình huống 03:
Theo quy định tại khoản 6 điều 192 Bộ luật lao động năm 2012 “Khi người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ.”
Như vậy, trường hợp này, anh P được bầu làm chủ tịch công đoàn cơ sở nhiệm kỳ 2014 -2016. Tuy hợp đồng lao động của anh P có thời hạn đến ngày 31/12/2014 nhưng anh P được phép gia hạn hợp đồng đến hết nhiệm kỳ làm chủ tịch công đoàn công ty.
Trường hợp vẫn còn thắc mắc, mời bạn đến trực tiếp văn phòng chúng tôi, Công ty Luật Trần Gia, địa chỉ: Lô E1, khu Bồ Hỏa, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội hoặc gọi điện đến tổng đài 1900.6287 để được tư vấn trực tiếp.
Cám ơn bạn đã tin tưởng dịch vụ của chúng tôi!
Trân trọng!
Ban biên tập – Luật Trần Gia










